Chung sống 18 năm không đăng ký kết hôn có được chia thừa kế?
15/12/2025Tóm tắt tình huống
Một người phụ nữ lớn tuổi chung sống như vợ chồng với một người đàn ông góa vợ trong suốt 18 năm nhưng không đăng ký kết hôn. Hai người cùng lao động, gây dựng cơ nghiệp trang trại, nuôi dạy hai con riêng của người đàn ông đến khi trưởng thành. Khi người đàn ông qua đời, toàn bộ tài sản đều đứng tên ông. Người phụ nữ lo lắng vì không có danh phận pháp lý, không biết mình có được hưởng thừa kế hay không, dù các con riêng đều mong muốn bà được chia phần tài sản như một người vợ chính thức.
Từ tình huống này, đặt ra câu hỏi: Người chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn có được chia tài sản thừa kế không? Pháp luật giải quyết thế nào?
1. Chung sống không đăng ký kết hôn có được công nhận là vợ chồng?
Theo quy định pháp luật hiện hành, kể từ ngày 01/01/2003, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng bắt buộc phải đăng ký kết hôn thì mới được công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Trường hợp chung sống sau thời điểm này nhưng không đăng ký kết hôn, pháp luật không công nhận là vợ chồng, dù có sống chung nhiều năm, có tài sản chung hay cùng nuôi con.
Vì vậy, trong tình huống nêu trên, người phụ nữ không được coi là vợ hợp pháp của người đã mất.
2. Quan hệ tài sản được giải quyết thế nào khi không phải vợ chồng hợp pháp?
Dù không được công nhận là vợ chồng, nhưng pháp luật không bỏ mặc quyền lợi tài sản của người chung sống.
Khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
Quan hệ tài sản của nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.
Theo đó:
Tài sản riêng của ai vẫn thuộc người đó
Tài sản do hai bên cùng tạo lập trong thời gian chung sống được xem là tài sản sở hữu chung, căn cứ vào công sức đóng góp, không phụ thuộc việc đứng tên ai
Người phụ nữ hoàn toàn có quyền yêu cầu xác định phần tài sản thuộc về mình trong khối tài sản chung hình thành suốt 18 năm chung sống.
3. Về quyền thừa kế: Có được hưởng di sản không?
Pháp luật phân biệt rất rõ giữa chia tài sản chung và chia thừa kế:
Chia tài sản chung: Người phụ nữ được nhận phần tài sản thuộc công sức của mình
Chia thừa kế: Chỉ áp dụng với những người thuộc hàng thừa kế theo luật
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha mẹ, con ruột, con nuôi hợp pháp.
Do không phải vợ hợp pháp, nên nếu người đàn ông không để lại di chúc, người phụ nữ không thuộc hàng thừa kế và không đương nhiên được hưởng di sản.
4. Trường hợp nào người chung sống vẫn được hưởng di sản?
Người chung sống không đăng ký kết hôn vẫn có thể được hưởng tài sản, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, có di chúc hợp pháp
Nếu người mất để lại di chúc chỉ định cho người chung sống hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản, thì di chúc có giá trị pháp lý.
Thứ hai, thỏa thuận với các đồng thừa kế
Trong trường hợp không có di chúc, nhưng các con (người thừa kế hợp pháp) tự nguyện thỏa thuận chia cho người chung sống một phần di sản, thì pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận này.
Thứ ba, xác định phần tài sản chung trước khi chia thừa kế
Tòa án hoặc các bên có thể xác định:
Ví dụ: 50% tài sản là phần của người phụ nữ (do công sức tạo lập)
50% còn lại mới là di sản thừa kế để chia cho các con
5. Lời khuyên pháp lý
Trong trường hợp tương tự, người chung sống nên:
Thu thập chứng cứ về công sức đóng góp (làm ăn, quản lý, nuôi con, đầu tư…)
Trao đổi, lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản với các con
Trường hợp không thống nhất, có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản sở hữu chung
Việc pháp luật không công nhận hôn nhân không đồng nghĩa với việc phủ nhận công sức, đóng góp thực tế của người đã gắn bó suốt nhiều năm.